枕边人被霰弹枪轰碎了头,她满脸血却说“没听见”
Người nằm cạnh bị súng săn thổi nát đầu, cô đầy mặt máu nhưng nói “không nghe thấy gì”
大家好,我是马丁韩庄。
Xin chào mọi người, tôi là Martin Hanzhuang.
2008年2月21日凌晨,梅丽莎从睡梦中突然惊醒,闻到空气中一股浓郁的血腥味儿。她伸手去推睡在身边的丈夫,却摸到一片黏黏糊糊的液体。
Sáng sớm ngày 21/2/2008, Melissa đột ngột tỉnh giấc từ giấc ngủ và ngửi thấy một mùi tanh máu rất đậm trong không khí. Cô vươn tay đẩy người chồng đang ngủ bên cạnh, nhưng lại chạm phải một thứ chất lỏng nhớt dính.
打开灯后,她扭过头,忍不住尖叫起来。
Bật đèn lên, cô quay đầu lại và không kìm được tiếng thét.
凌晨3点半接到报警电话后,Minden镇的警探乔恩·斯托克立刻赶到了案发现场。
Sau khi nhận được cuộc gọi báo án lúc 3 giờ 30 sáng, thám tử Jon Stork của thị trấn Minden lập tức có mặt tại hiện trường.
他停下警车,看到房屋的大门敞开着,可是整个房子没有一丝光亮。他掏出手枪摸了进去,在第一间卧室门口停了下来。
Anh dừng xe cảnh sát, nhìn thấy cửa lớn của ngôi nhà mở toang, nhưng cả căn nhà không một ánh sáng. Anh rút súng bước vào, dừng lại ở cửa phòng ngủ đầu tiên.
站在卧室门口,能隐约看到屋里摆着一张床,床的一侧躺着一个人,整个人从头到尾蒙着一床毯子,一动不动。
Đứng ở cửa phòng ngủ, có thể mơ hồ nhìn thấy trong nhà đặt một chiếc giường, một người nằm ở một bên giường, cả người phủ một tấm chăn từ đầu đến cuối, bất động.
乔恩举起枪喝令道:“警察,把你的手拿出来。”他可以感到毯子下的人在轻轻抖动,却始终不做反应。
Jon giơ súng ra ra lệnh: “Cảnh sát, đưa tay ra.” Anh có thể cảm thấy người dưới tấm chăn đang run nhẹ, nhưng mãi không có phản ứng.
他快步走近,一手持枪,另一只手过去掀开了毯子,突然露出了下面的人。
Anh bước nhanh tới, một tay cầm súng, tay kia vén tấm chăn lên, bất chợt lộ ra người nằm bên dưới.
那是个非常健壮的年轻男人,可是满脸惊恐,双手蒙住头,颤抖着尖叫说,“不要开枪,不要开枪。”
Đó là một người đàn ông trẻ rất khỏe mạnh, nhưng khuôn mặt đầy hoảng sợ, hai tay ôm đầu, run rẩy hét lớn: “Đừng bắn, đừng bắn.”
克雷格
Craig
而这时一个女人出现在走廊的另一头,头脸和身上都是鲜血,一只手拿着电话,另一只手里搂着个小姑娘,哆哆嗦嗦地说,“在这边,你们要来这边看看。”
Lúc này có một người phụ nữ xuất hiện ở đầu hành lang bên kia, mặt và người đầy máu, một tay cầm điện thoại, tay kia ôm một bé gái nhỏ, run rẩy nói: “Ở đây, các người phải tới đây xem.”
乔恩指挥另一个警员把这个男人先带出去,自己抓紧了枪向另一头走去。
Jon chỉ đạo một viên cảnh sát đưa người đàn ông đó ra ngoài trước, còn bản thân anh chĩa súng tiến về phía bên kia hành lang.
从警三十年,他见过车祸,凶杀和自杀的各种现场,而眼前的这一幕,是他见过最为可怖的一个。
Trong ba mươi năm làm cảnh, anh đã thấy đủ loại hiện trường tai nạn giao thông, án mạng và tự sát, nhưng cảnh tượng trước mắt là một trong những thứ ghê rợn nhất anh từng gặp.
刚走进房间,首先看到的就是床头板和墙壁上覆盖着大片喷溅状血迹。
Vừa bước vào phòng, điều đầu tiên thấy là đầu giường và bức tường phủ đầy những vệt máu bắn tung tóe.
床的一侧躺着一个人,身上还穿着睡衣,头部所在的位置只剩下一团无法辨认的血肉,枕头已经看不出原来的颜色。鲜血凝结在他的头发上,浸透了床单,顺着床沿滴答到地面上。
Một người nằm ở một bên giường, còn mặc đồ ngủ, vị trí đặt đầu chỉ còn một mớ thịt máu không thể nhận diện, chiếc gối đã bị nhuốm màu loang lổ. Máu đông bám trên tóc anh ta, thấm vào ga giường, nhỏ giọt xuống sàn theo mép giường.
而床的另一侧却干干净净。显然,枪响时,他的身边还躺着另一个人。原本该落在另一侧床面上的血液和组织,几乎全都溅到了那个人身上,于是床面反而留下了一块诡异的人形空白。
Trong khi bên kia giường lại sạch sẽ hoàn toàn. Rõ ràng khi súng nổ, còn có người nằm bên cạnh anh ta. Máu và mô lẽ ra phải rơi ở phía bên kia giường đã văng hết lên người người đó, để lại trên giường một khoảng trống hình người kỳ quái.
乔恩很快弄清楚了这个房子里各人的身份。
Jon nhanh chóng xác định được danh tính những người trong nhà.
躺在床上的死者名叫本杰明·奥克斯利,带着孩子的女人是刚刚打电话报警的梅丽莎,蜷缩在毯子下发抖的是梅丽莎15岁的弟弟克里格,她搂着的小女孩儿是本杰明从上一段婚姻带来的女儿,6岁的阿丽娅。
Người nằm trên giường tên là Benjamin Oxley, người phụ nữ ôm con là Melissa, người đang co rúm dưới chăn run là em trai 15 tuổi của Melissa, Craig, và cô bé mà cô ôm là con gái của Benjamin từ cuộc hôn nhân trước, bé Aria 6 tuổi.
本杰明,梅丽莎和小女儿阿丽亚
Benjamin, Melissa và bé gái Aria
乔恩让随行的警员把三个人分头带到不同的房间,先安抚一番让他们平静下来,自己则上下检查整幢房子。
Jon bảo các cảnh sát đi cùng đưa ba người này vào các phòng khác nhau, an ủi họ để họ bình tĩnh lại, còn anh thì kiểm tra khắp căn nhà.
隔壁房间里,梅丽莎正呆呆地坐着。她的右脸、头发和睡衣上沾满了血迹,一个女警员正在给她做简单的检查。
Trong phòng bên cạnh, Melissa đang ngồi như người mất hồn. Má phải, tóc và bộ đồ ngủ của cô dính đầy máu, một nữ cảnh sát đang kiểm tra sơ bộ cho cô.
看到乔恩走进来,梅丽莎茫然地抬起头。
Thấy Jon bước vào, Melissa lúng túng ngẩng đầu lên nhìn.
前一天的晚上他们像往常一样洗漱完就上床睡觉,睡到凌晨的时候,梅丽莎不知道为什么突然醒过来,本来她是想翻个身接着睡的,可是那一刻她的心里忽然涌上了一种诡异的不安。
Tối hôm trước họ như mọi khi rửa ráy xong rồi lên giường ngủ. Đến sáng sớm, Melissa không rõ vì sao bỗng tỉnh, cô vốn định lật người nằm tiếp nhưng lúc đó trong lòng bỗng trào lên một cảm giác bất an kỳ lạ.
她想推醒睡在身边的本杰明,伸手一摸,指尖触到的却是一片又湿又热黏黏糊糊的东西。她连忙伸手拧开床头灯,扭过头,看到了一张血肉模糊的脸。
Cô muốn đánh thức Benjamin đang nằm bên cạnh, đưa tay chạm thì đầu ngón tay chạm vào một thứ ướt nóng và dính. Cô vội bật đèn đầu giường, quay đầu lại và thấy một khuôn mặt rách nát bê bết máu.
乔恩联想到大门的门锁没有被破坏的痕迹,没有破碎的玻璃窗。
Jon liên tưởng tới việc khóa cửa chính không hề có dấu hiệu bị phá, cửa kính không bị vỡ.
而且,凶手进入房子之后,没有像他一样首先走进克里格的房间,没有在黑暗中乱撞,也没有惊动其他人,而是径直找到了本杰明和梅丽莎的卧室。
Hơn nữa, kẻ thủ phạm sau khi vào nhà không như anh bước thẳng vào phòng của Craig trước, không lục lọi trong bóng tối, cũng không làm mọi người tỉnh giấc, mà đi thẳng tới phòng ngủ của Benjamin và Melissa.
这间主卧里除了鲜血淋漓的床,并没有明显的打斗痕迹,显然凶手进屋后直接来到了床边,在本杰明反应过来之前,就用枪口直接对准了他的脸部开枪。本杰明在中枪的时候还在熟睡,压根没有被惊醒反抗的机会。凶手只开了一枪,就迅速离开。
Trong phòng ngủ chính ngoài chiếc giường đầy máu không có dấu hiệu vật lộn rõ rệt, rõ ràng kẻ thủ vào nhà đã trực tiếp tới giường, trước khi Benjamin kịp phản ứng đã chĩa nòng súng vào mặt anh ta và bắn. Khi trúng đạn Benjamin vẫn đang ngủ say, hoàn toàn không có cơ hội tỉnh dậy chống cự. Kẻ thủ chỉ bắn một phát rồi rời đi nhanh chóng.
其他的房间也没有翻找财物留下的凌乱。
Các phòng khác cũng không bị lục soát lộn xộn lấy tài sản.
这一切都说明凶手目标明确,动作干净,对屋里的格局似乎也相当熟悉。
Tất cả những điều này cho thấy kẻ thủ có mục tiêu rõ ràng, hành động gọn gàng, có vẻ rất quen thuộc với bố cục trong nhà.
而本杰明的脸上不是一个普通的伤口,而是比一般枪伤的洞口大很多,这样的破坏程度不像是手枪能造成的创伤,乔恩立刻判断凶手用的是霰弹枪,而且是近距离发射,所以弹丸还没有来得及散开,就高速撞击到本杰明的面部,瞬间摧毁了他的头部。
Vết thương trên mặt Benjamin không phải vết thương súng thông thường mà là một lỗ lớn hơn rất nhiều, mức độ phá hủy như vậy không giống vết thương do súng lục gây ra, Jon lập tức nhận định kẻ thủ dùng súng săn, và bắn ở cự ly gần nên đạn chưa kịp tỏa ra đã lao thẳng vào mặt Benjamin, ngay lập tức phá hủy đầu anh ta.
“本杰明已经死了,”乔恩告诉梅丽莎,“你身上哪里受伤了吗?”
“Benjamin đã chết,” Jon nói với Melissa, “cô có bị thương chỗ nào không?”
梅丽莎摇摇头。虽然她的半边身子都是血,身上却毫发无损。
Melissa lắc đầu. Dù nửa người của cô nhuốm đầy máu, trên người cô không có vết thương nào.
乔恩问她:“当时发生了什么?”
Jon hỏi cô: “Khi đó chuyện gì đã xảy ra?”
梅丽莎还是摇头,她满脸茫然,大脑一片空白。
Melissa vẫn lắc đầu, mặt cô hoang mang, đầu óc trống rỗng.
惊慌失措的梅丽莎
Melissa hoảng loạn
她没听见有人进屋,没听到有人靠近床边,甚至连巨大的枪响都没有听见。
Cô không nghe thấy ai vào nhà, không nghe thấy ai tiến đến giường, thậm chí không nghe thấy tiếng súng nổ lớn.
乔恩打量着梅丽莎,显然案发的时候她就躺在本杰明的身旁。霰弹枪发射的声音特别响,更别提还是在室内。
Jon nhìn Melissa, rõ ràng khi án mạng xảy ra cô đang nằm cạnh Benjamin. Tiếng súng săn khi bắn trong nhà rất to, càng không thể tin được Melissa lại không bị đánh thức.
飞机起飞的声贝大概是130,而且室内发射的霰弹枪能达到150-165声贝,就躺在一张床上的梅丽莎怎么可能不被惊醒?
Tiếng cất cánh của máy bay vào khoảng 130 decibel, còn súng săn bắn trong nhà có thể đạt 150–165 decibel, vậy một người nằm ngay trên giường như Melissa làm sao có thể không tỉnh giấc?
这根本说不过去。
Điều đó hoàn toàn vô lý.
可是梅丽莎摇着头说,“我当时还在睡觉。”
Nhưng Melissa lắc đầu nói: “Lúc đó tôi vẫn đang ngủ.”
乔恩问她:“为什么凶手放过了你?”
Jon hỏi cô: “Tại sao kẻ thủ lại bỏ qua cô?”
梅丽莎还是摇头。她的目光涣散,表情茫然,看似悲痛却没有眼泪。
Melissa lại lắc đầu. Ánh mắt cô lạc lõng, biểu cảm hoang mang, trông có vẻ đau buồn nhưng không có nước mắt.
就在这时,负责搜索现场的警员走了过来,压低声音对乔恩说了几句话。他的脸色变得凝重起来。
Lúc này, một cảnh sát phụ trách rà soát hiện trường tới bên, thì thầm vài câu với Jon. Sắc mặt anh ta trở nên nghiêm trọng.
虽然血迹集中在本杰明和梅丽莎所在的卧室,其他房间没有发现任何血迹,而且也没有打斗的痕迹,可是,在克里格的卧室里,却发现了好几把枪和几盒子弹。
Mặc dù vết máu tập trung ở phòng ngủ của Benjamin và Melissa, các phòng khác không có dấu vết máu hay dấu vết vật lộn, nhưng trong phòng của Craig, họ phát hiện vài khẩu súng và vài hộp đạn.
其中就包括了两把12号霰弹枪!
Trong đó có hai khẩu súng săn cỡ 12!
克里格磕磕巴巴地解释说,他喜欢打猎,这个枪是他用来打鸭子的。前一天晚上他特别累了,所以睡得很沉,也什么都没听见。直到乔恩他们抵达现场。
Craig lí nhí giải thích rằng cậu thích đi săn, khẩu súng đó dùng để bắn vịt. Tối hôm trước cậu mệt nên ngủ rất say, cũng không nghe thấy gì. Cho tới khi Jon và họ tới hiện trường.
“那你睡觉都是直挺挺地躺着用毯子蒙着头吗?” 乔恩忍不住问他。克里格居然点点头。
“Thế cậu ngủ lúc nào cũng nằm thẳng và đội chăn trùm kín đầu hả?” Jon không nhịn được hỏi. Craig thật sự gật đầu.
乔恩决定不要浪费时间,他绕开克里格,对梅丽莎用尽可能平静的语气解释,警方需要对他俩进行一项测试。
Jon quyết định không lãng phí thời gian, anh đi vòng qua Craig, dùng giọng cố giữ bình tĩnh giải thích với Melissa rằng cảnh sát cần tiến hành một cuộc kiểm tra đối với cả hai người.
他尤其强调了一下,也包括克里格。
Anh nhấn mạnh rằng kiểm tra này bao gồm cả Craig.
梅丽莎愣了一下,乔恩解释说,因为克里格是未成年人,所以必须梅丽莎同意,而且测试的时候她必须在场。
Melissa chần chừ một lúc, Jon giải thích vì Craig là vị thành niên nên cần có sự đồng ý của Melissa, và trong lúc kiểm tra cô phải có mặt.
克里格的表情明显紧张了起来,但是梅丽莎点了点头。
Biểu cảm của Craig rõ ràng căng thẳng, nhưng Melissa gật đầu đồng ý.
很快,一名警方的技术人员带着检测包走了进来,她戴上手套,取出棉签,仔细地擦拭梅丽莎和克里格的手掌,手背和指缝。虽然她的动作轻柔,房间里的气氛却凝重起来,每个人的眼睛都盯着她手里的棉签。
Không lâu sau, một nhân viên kỹ thuật của cảnh sát mang theo bộ xét nghiệm bước vào, cô đeo găng tay, lấy tăm bông lau kỹ lòng bàn tay, mu bàn tay và kẽ ngón của Melissa và Craig. Dù thao tác nhẹ nhàng, không khí trong phòng trở nên nặng nề, mọi ánh mắt đều dán vào que tăm bông trên tay cô.
如果一个人在近期内发射过枪支,火药燃烧产生的微粒会附着在持枪的双手附近和衣服上。即使立刻去洗手,也不一定能完全清除。
Nếu một người gần đây vừa bóp cò súng, các hạt dư lượng thuốc súng sinh ra khi bột cháy sẽ bám quanh hai bàn tay người cầm và trên quần áo. Ngay cả nếu rửa tay ngay sau đó cũng không chắc đã tẩy sạch hoàn toàn.
尤其梅丽莎身上还穿着带血的睡衣,说明在案发后她没有换过衣服。
Đặc biệt Melissa còn mặc bộ đồ ngủ dính máu, chứng tỏ cô không thay đồ sau khi vụ việc xảy ra.
乔恩静静地站在一边,看着技术人员把采样棉签装入证物袋,贴上编号。他的脑子里飞速运转着。
Jon đứng im một bên, nhìn nhân viên kỹ thuật cho que tăm bông vào túi chứng cứ, dán nhãn mã. Đầu anh suy nghĩ chớp nhoáng.
因为大多数霰弹枪的枪管是光滑的,没有膛线。所以钢珠不会留下明显的膛线痕迹,也就是说他们不能像手枪那样进行弹道鉴定。
Bởi vì hầu hết ống nòng của súng săn là trơn, không có rãnh xoắn. Do vậy viên bi thép sẽ không để lại vết rãnh đạn rõ rệt, tức là họ không thể làm giám định đường đạn như súng lục.
但如果能找到弹壳或者弹托的话就好办了。
Nhưng nếu tìm được vỏ đạn hay khay đựng đạn (đệm đạn) thì mọi việc sẽ dễ dàng hơn.
只是如果凶手就是他们两人之一,那得蠢到什么程度才会把凶器放回自己的房间?不过,更蠢的凶手他也见过,尤其是匆促之间处理凶器并不容易。
Chỉ là nếu kẻ thủ chính là một trong hai người họ, ngu tới mức nào mới đặt vũ khí vào phòng mình? Tuy nhiên Jon cũng từng gặp kẻ ngu hơn, nhất là trong lúc vội vàng xử lý vũ khí không đơn giản.
当天晚上,法医就对本杰明做了尸检,在他破碎的头骨里,法医的确发现了一枚严重变形的弹托。
Tối hôm đó, pháp y tiến hành khám nghiệm tử thi cho Benjamin, trong hộp sọ nát của anh, pháp y thực sự tìm thấy một mảnh đệm đạn bị biến dạng nghiêm trọng.
这算是一个好消息。弹托的结构证明,凶器确实是一把十二号霰弹枪。
Đó là một tin tốt. Cấu trúc của mảnh đệm chứng minh vũ khí thực sự là một khẩu súng săn cỡ 12.
可坏消息是,由于弹托变形太严重,鉴定人员无法判断,那枚霰弹到底是不是从克里格房间里的那把枪里发射出来的。
Nhưng tin xấu là do đệm đạn biến dạng quá nghiêm trọng, các chuyên viên không thể xác định mảnh đệm đó có phải được bắn ra từ khẩu súng trong phòng của Craig hay không.
几天后火药残留检测的结果也出来了:梅丽莎和克里格的火药检测都是阴性。
Vài ngày sau kết quả xét nghiệm dư lượng thuốc súng cũng ra: cả Melissa và Craig đều âm tính với thuốc súng.
这样最直接的两条线索就这样断了。
Như vậy hai manh mối trực tiếp nhất đã bị bế tắc.
不过乔恩没有泄气,他开始重新梳理本杰明身边的人际关系。
Nhưng Jon không bỏ cuộc, anh bắt đầu rà soát lại các mối quan hệ xung quanh Benjamin.
从表面上看,本杰明是个非常普通的中年人,他曾经结过一次婚,前妻名叫唐妮,两人生了个女儿阿丽娅。
Nhìn bề ngoài Benjamin là một người trung niên rất bình thường, anh từng kết hôn một lần, vợ cũ tên Donnie, họ có một cô con gái Aria.
三年前本杰明与唐妮离婚,可是他舍不得女儿,不肯放弃监护权,竭尽全力把女儿留在了身边,当时阿丽娅才刚满3岁。
Ba năm trước Benjamin ly hôn Donnie, nhưng anh không nỡ từ bỏ con gái, không chịu mất quyền nuôi, đã nỗ lực giữ con bên mình, khi đó Aria mới vừa tròn 3 tuổi.
本杰明一个人带着阿丽娅生活,父女俩是最好的朋友,直到两年前他认识了梅丽莎,对她一见钟情。梅丽莎的性格大大咧咧的,总是面带笑容,本杰明跟她第一次约会就带上了阿丽娅。
Benjamin một mình nuôi Aria, cha con họ là những người bạn rất thân, cho tới hai năm trước anh quen Melissa và phải lòng cô ngay lần gặp đầu. Melissa tính tình phóng khoáng, luôn mỉm cười, Benjamin dẫn Aria tới buổi hẹn đầu tiên với cô.
小小的阿丽娅一开始不愿意接纳梅丽莎,她甚至非常直接地挡在两人之间,告诉梅丽莎说,“你不许跟我爸爸讲话。”可是梅丽莎一点儿没生气,反而被逗得哈哈大笑。
Bé Aria lúc đầu không muốn chấp nhận Melissa, thậm chí rất thẳng thừng đứng chắn giữa hai người, nói với Melissa: “Cô không được nói chuyện với bố con.” Nhưng Melissa không hề giận, trái lại cô cười lớn.
最终,她赢得了小姑娘的心,阿丽娅甚至会催着爸爸,什么时候再带她去找“那个漂亮阿姨”玩。
Cuối cùng cô chinh phục được trái tim của cô bé, Aria còn thúc giục bố đưa cô đi gặp “dì xinh” chơi lần nữa.
一年后,本杰明向梅丽莎求婚,而阿丽娅做了两人婚礼上的花童。
Một năm sau Benjamin cầu hôn Melissa, và Aria làm hoa nhí trong đám cưới của họ.
在婚后,本杰明向法庭提出申请,获得了阿丽娅的独立监护权,梅丽莎也正式领养了继女,三个人组成了一个完整的家庭。不久梅丽莎的弟弟克里格也搬来跟他们一起同住。
Sau khi kết hôn Benjamin nộp đơn lên tòa xin quyền giám hộ độc lập cho Aria, Melissa chính thức nhận con riêng làm con nuôi, ba người tạo thành một gia đình trọn vẹn. Không lâu sau em trai Melissa là Craig cũng chuyển tới sống cùng họ.
原本来自不同家庭的几个人生活在同一个屋檐下,却过得十分和谐,无论怎么打听,乔恩也找不到梅丽莎姐弟杀害本杰明的动机。
Những người đến từ gia đình khác nhau nhưng sống dưới một mái nhà rất hòa hợp, dù Jon tìm hỏi tới đâu cũng không thấy động cơ khiến Melissa và em trai sát hại Benjamin.
可就在调查陷入停滞时,他发现了一件事。就在半年前,本杰明购买了一份人身保险,金额40万美元,而受益人正是梅丽莎!
Nhưng khi điều tra tưởng như gặp bế tắc, anh phát hiện một chuyện. Nửa năm trước, Benjamin mua một hợp đồng bảo hiểm nhân thọ trị giá 400.000 đô la, và người thụ hưởng chính là Melissa!
此时动机似乎一下子出现了。
Lúc này động cơ dường như hiện ra ngay lập tức.
可是乔恩继续调查下去,却发现事情没那么简单,看起来梅丽莎本人并不知道这份保险的存在。当初本杰明买保险的时候,梅丽莎没有出现,而案发后,也始终没有人联络保险公司讨论赔保的事。
Nhưng khi Jon tiếp tục điều tra, anh thấy không đơn giản như vậy, có vẻ Melissa không hề biết về hợp đồng bảo hiểm này. Khi Benjamin mua bảo hiểm, Melissa không có mặt, và sau vụ việc cũng không có ai liên hệ công ty bảo hiểm để thảo luận việc nhận tiền bảo hiểm.
就算梅丽莎特别能沉住气,不急着办理赔保手续,可是一般人这个时候都会去收集整理理赔的材料,梅丽莎却毫无动静。
Dù Melissa có chịu đựng tốt đến mức không vội làm thủ tục nhận bảo hiểm, thường người trong hoàn cảnh này vẫn sẽ bắt đầu thu thập giấy tờ liên quan để làm hồ sơ, nhưng Melissa hoàn toàn không có động tĩnh gì.
乔恩决定暂时不惊动她,继续观察一段时间,然后他震惊地发现梅丽莎好像若无其事地恢复了正常生活。她很快回去上班,甚至重新开始约会!
Jon quyết định tạm thời không làm ồn, quan sát thêm một thời gian, rồi anh sửng sốt phát hiện Melissa dường như trở lại cuộc sống bình thường như không có chuyện gì. Cô sớm đi làm lại và thậm chí bắt đầu hẹn hò trở lại!
可是那个跟她约会的男人,又被证明的确是她刚刚认识。
Người đàn ông hẹn hò với cô lại được chứng minh là người cô vừa mới quen.
乔恩感到困惑不已。
Jon cảm thấy rất bối rối.
无论是保险,财务状况,还是梅丽莎在案发后的表现,虽然令人起疑,却不足证明她就是凶手,乔恩越来越感觉自己似乎陷入了一个死胡同。
Dù là bảo hiểm, tình hình tài chính hay hành vi của Melissa sau vụ án đều đáng ngờ, nhưng chưa đủ để chứng minh cô là thủ phạm; Jon ngày càng cảm thấy mình như đang rơi vào ngõ cụt.
乔恩决定与梅丽莎正面谈一谈这个事情,可梅丽莎提出了一个问题:你们为什么不去查一下唐妮呢?
Jon quyết định nói thẳng với Melissa về chuyện này, nhưng Melissa nêu ra một câu hỏi: tại sao các ông không đi điều tra Donnie?
唐妮是本杰明的前妻,两人结婚6年可离婚闹得特别难看。最让唐妮生气的地方是,法官不仅把孩子判给了爸爸,还要求她每个月出1000多刀的抚养费。
Donnie là vợ cũ của Benjamin, họ kết hôn sáu năm nhưng ly hôn trong ồn ào. Điều khiến Donnie tức giận nhất là thẩm phán không chỉ giao con cho bố mà còn yêu cầu cô phải trả hơn 1.000 đô la mỗi tháng tiền trợ cấp nuôi con.
两人离婚的时候,唐妮有个混黑帮的男朋友。这个男朋友甚至曾经当着法官的面威胁过本杰明。
Khi ly hôn, Donnie có một bạn trai liên quan tới băng nhóm. Bạn trai này thậm chí từng đe dọa Benjamin ngay trước mặt thẩm phán.
乔恩立刻回到警局,调出这个黑帮男友的记录,发现这人的确劣迹累累。可他还没来得及高兴,就看到案发的那天,这个黑帮男友正因为抢劫被关在警局里,所以压根没有犯罪的机会。
Jon lập tức về đồn trích xuất hồ sơ của người bạn trai băng nhóm này, phát hiện người này thực sự có tiền sử phạm tội. Nhưng anh còn chưa kịp mừng thì thấy vào ngày xảy ra án, người bạn trai băng nhóm đó đang bị giam vì tội cướp, vậy là không có cơ hội phạm tội.
然后乔恩继续往下查,了解到这个时候唐妮已经又交了一个新的男友,名叫詹姆斯·马特林,他对本杰明也十分愤愤。
Rồi Jon tiếp tục điều tra, biết rằng lúc đó Donnie đã có một bạn trai mới tên là James Martin, người này cũng rất giận Benjamin.
唐妮和詹姆斯
Donnie và James
可是唐妮和詹姆斯为对方作证,案发的那天晚上他们在家里喝酒看电视。他们非常详细地讲述了那天晚上看了什么,还真的能一一对应,所以他们的犯罪嫌疑也被排除了。
Nhưng Donnie và James chứng thực cho nhau rằng tối hôm xảy ra án họ ở nhà uống rượu xem tivi. Họ mô tả rất chi tiết chương trình họ đã xem và những chi tiết đó trùng khớp, nên họ cũng bị loại khỏi diện tình nghi.
乔恩翻来覆去地想,总是觉得有哪儿不对。
Jon suy đi nghĩ lại, luôn có cảm giác có điều gì đó sai.
本杰明的死亡非常明显是出于私怨,那么凶手一定就是认识他的人,而且一定是非常熟悉他的人。可是他身边的人一个一个被排除了嫌疑,说明要么还有人没有被调查到,或者就是他们的调查疏漏了什么。
Cái chết của Benjamin rõ ràng bắt nguồn từ mối thù cá nhân, vậy kẻ thủ chắc chắn là người quen biết anh, và rất thông thạo anh. Nhưng những người xung quanh anh lần lượt bị loại trừ, nghĩa là có người còn chưa bị điều tra, hoặc có chỗ họ điều tra bị bỏ sót.
乔恩把案发那天晚上在现场留下的记录又拿出来翻看,忽然意识到自己遗漏了一件事。
Jon lấy hồ sơ lại và xem xét kỹ những gì để lại hiện trường tối hôm đó, đột nhiên nhận ra mình đã bỏ sót một việc.
那天在现场的,还有一个人,六岁的阿丽娅!
Người còn ở hiện trường tối hôm đó là một bé gái sáu tuổi, Aria!
·